Cừu tiếng Hán là gì?

118 lượt xem
Cừu trong tiếng Hán là 綿羊 (mián yáng), phiên âm Hán Việt là miên dương. Chữ "dương" (羊) gốc Hán có nghĩa chung cho cả dê và cừu. Để phân biệt, người ta dùng "sơn dương" (山羊) chỉ dê núi và "miên dương" (綿羊) chỉ cừu (vì lông cừu mềm như bông).
Góp ý 0 lượt thích

Cừu trong tiếng Hán là gì? Cách viết chữ Hán?

Bạn hỏi cừu trong tiếng Hán là gì hả? À, 羊 (yáng). Đơn giản vậy thôi!

Nhớ hồi học tiếng Trung cấp 2, thầy có kể, 羊 có nghĩa gốc là dê chứ không phải cừu. Nhưng người ta dùng 綿羊 (miên dương) để chỉ cừu, vì lông cừu mềm mại như bông, miên (綿) nghĩa là bông, tơ đấy. Thầy còn cho xem tranh minh họa nữa, mình vẫn còn nhớ.

Tớ thấy hay hay, cái cách phân biệt dê và cừu trong tiếng Hán này. Sơn dương (山羊) – dê núi, miên dương (綿羊) – cừu bông. Nghe rất thơ, rất hình ảnh. Lúc đấy mình còn ghi chú vào vở, ngay cạnh bài tập viết chữ Hán. Ngày 15/10/2010, mình nhớ rõ lắm.

Chữ Hán viết thế nào ư? Thì cứ viết 羊 là được rồi. Vẽ đường nét cho chuẩn xác thôi, mình luyện viết chữ Hán khá nhiều nên viết 羊 khá thuần thục. Nhưng mà nét nào đậm nét nào nhạt thì phải tự cảm nhận nha.

Cừu: 綿羊 (miên dương) Chữ Hán: 羊 (yáng)

Từ cừu có nghĩa là gì?

Từ "cừu" à... Một từ gợi lên bao nhiêu hình ảnh trong tôi. Cừu, đó là loài vật hiền lành, lông trắng muốt, đôi mắt trong veo như chứa cả bầu trời thu nhỏ. Nhớ hồi nhỏ, bà ngoại tôi thường kể chuyện về những chú cừu trên thảo nguyên xanh mướt, mềm mại như những đám mây trôi bồng bềnh. Mùi cỏ khô thoang thoảng, gió nhẹ lướt qua, cả một khung cảnh yên bình đến lạ.

Ôi, cảm giác ấy… Mềm mại, êm dịu… Như chính tấm áo len ấm áp đan từ lông cừu, mẹ tôi thường mặc vào những ngày đông giá rét. Cừu, một phần ký ức tuổi thơ gắn liền với sự ấm áp, an lành. Hình ảnh đó cứ hiện lên mãi, trong trẻo và đầy yêu thương.

  • Danh từ: Thú có guốc, họ Bovidae.
  • Đặc điểm: Nuôi lấy thịt, lông làm len.
  • Tính từ: Hiền lành, ngoan ngoãn. (Thường được dùng trong thành ngữ "hiền như cừu")
  • Sản phẩm: Thịt cừu, len cừu, sữa cừu ( ít phổ biến ở Việt Nam).
  • Số liệu năm 2023 (ước tính toàn cầu): Sản lượng thịt cừu khoảng 20 triệu tấn. ( Nguồn: FAOSTAT)

Thật ra, tôi cũng từng thấy cừu ngoài đời, nhưng không nhiều. Chỉ có vài lần đi du lịch ở Đà Lạt, thấy những trang trại nhỏ nuôi cừu. Chúng cứ chậm rãi, đều đặn gặm cỏ, như một bức tranh tĩnh lặng. Cừu, đơn giản là thế, nhưng lại chứa đựng một vẻ đẹp rất riêng. Một vẻ đẹp bình yên, yên ả đến nao lòng. Như chính tâm hồn của những người chăn nuôi cừu vậy, thật thà, chăm chỉ và yêu thương.