Thế nào là thanh trắc, thế nào là thanh bằng?

164 lượt xem
Thanh trắc và thanh bằng là hai nhóm thanh điệu cơ bản trong tiếng Việt. Thanh trắc: Gồm các tiếng mang dấu sắc, hỏi, ngã, nặng. Nhóm này thường tạo cảm giác mạnh mẽ, lên xuống rõ rệt. Thanh bằng: Bao gồm tiếng không dấu (thanh ngang) hoặc có dấu huyền. Các tiếng này thường mang âm điệu êm ái, trầm ổn hơn. Đáng chú ý, tiếng trầm là thuật ngữ riêng cho các tiếng có dấu hỏi và dấu nặng.
Góp ý 0 lượt thích

Cách phân biệt thanh bằng và thanh trắc trong tiếng Việt?

Để phân biệt thanh bằng và thanh trắc:

  • Thanh trắc gồm các dấu: sắc (´), hỏi (ˀ), ngã (~), nặng (.).
  • Thanh bằng gồm: thanh ngang (không dấu) và thanh huyền (`).

Bây hỏi cái này đúng là gãi đúng chỗ ngứa của tao hồi xưa.

Hồi đó học văn tao ghét nhất cái vụ bằng trắc này, lú hết cả đầu. Cô giáo cứ giảng là trắc thì có sắc, hỏi, ngã, nặng. Bằng thì có huyền với không dấu. Nghe thì dễ mà vô làm thơ lục bát là tao sai lên sai xuống.

Xong tao tự nghĩ ra cái mẹo này, bây thấy có lý không.

Cứ đọc cái chữ đó lên, nếu bây thấy cái âm nó cứ ngang ngang, nó lướt đi nhẹ nhàng, êm ru như đường cao tốc Long Thành - Dầu Giây lúc 3 giờ sáng á, thì nó là thanh BẰNG. Ví dụ như "yêu em", "về nhà", nghe nó du dương, nó bằng phẳng.

Còn mấy cái thằng còn lại, đọc lên nghe nó cứ gập ghềnh, nó trắc trở, nó dằn xuống hoặc nó vút lên, nghe nó mệt như lúc kẹt xe ở ngã tư Hàng Xanh giờ tan tầm vậy đó. Thì auto nó là thanh TRẮC.

Cứ nghĩ vầy cho lẹ: dấu sắc thì nó vút lên. Dấu hỏi thì nó lượn một vòng rồi lên. Dấu ngã thì nó gãy một cái ở giữa. Còn cái gấu nặng thì nó rớt cái bịch xuống đất, nghe nó nặng nề. Đó, mấy cái thằng đó nó "hành" cái miệng mình, nên nó là trắc.

À còn cái vụ "tiếng trầm" bây nói á, chắc ý bây là mấy cái âm vực nó thấp đúng không. Thì đúng là dấu huyền với dấu nặng nó kéo cái giọng mình ì xuống thiệt. Hồi tháng 4 vừa rồi tao đi tập hát bài "Thành phố buồn" ở cái phòng trà trên đường Đồng Đen, mấy chữ có dấu nặng tao hát muốn hụt hơi luôn.

Nên túm lại là đừng học thuộc lòng làm gì. Cứ đọc to lên, cái tai mình nó tự phân biệt được cái nào êm cái nào gập ghềnh à. Tin tao đi.

Thanh điệu trong ngữ vần là gì?

Ok, thanh điệu hả bây? Thanh điệu là cái cao độ giọng nói mình dùng để phân biệt nghĩa từ vựng hay ngữ pháp đó bây. Xong! Rõ chưa? Trời ơi, mới hỏi câu gì mà nghĩ nát óc tao... Sao mà cái tiếng Việt mình nó rắc rối ghê!

À mà thanh điệu quan trọng lắm nha, không có nó là coi như toang hết á. Ví dụ nha:

  • Thanh ngang (không dấu): "ma" - ma quỷ
  • Thanh huyền (`): "mà" - mà thôi
  • Thanh hỏi (?): "mả" - mồ mả
  • Thanh ngã (~): "mã" - mã số
  • Thanh sắc (/): "má" - mẹ
  • Thanh nặng (.): "mạ" - mạ non

Thấy chưa? Cùng là chữ "ma" đó mà mỗi cái dấu là nghĩa khác liền! Rồi, hôm qua tao mới nói chuyện với con bé hàng xóm, nó học tiếng Việt, nó cứ lúng túng mấy cái thanh này nè. Bảo sao mà khó quá! Nó còn hỏi tao là tiếng Anh có thanh điệu không.

Ừm, tiếng Anh không có thanh điệu như tiếng Việt mình đâu, mấy ngôn ngữ như tiếng Trung, tiếng Thái mới có. Thật ra tiếng Anh có ngữ điệu (intonation) nhưng nó khác thanh điệu. Ngữ điệu thì cả câu mới có, còn thanh điệu là ở từng từ. Hai cái này dễ bị nhầm lẫn ghê!

Mà sao người ta nghĩ ra mấy cái này hay vậy trời? Chắc hồi xưa không có viết ra chữ viết nên phải dùng giọng nói để phân biệt. Suy nghĩ lung tung quá.

Đôi khi tao cũng bị lộn thanh nữa đó bây. Nhất là lúc nói nhanh hay nhắn tin. Gõ sai dấu cái là thành nghĩa khác liền, mắc cười ghê! Nhớ hồi xưa bà cô tiếng Việt cứ bắt luyện đọc mấy từ gần giống nhau hoài à. Mệt muốn chết! Mà nhờ vậy mà bây giờ phân biệt được kha khá đó.

Rồi, cái vụ thanh điệu này quan trọng ở mấy chỗ này nè:

  • Phân biệt nghĩa: Giúp hiểu đúng từ.
  • Ngữ pháp: Có thể thay đổi chức năng ngữ pháp.
  • Giao tiếp: Quan trọng để không gây hiểu lầm.
  • Học ngoại ngữ: Đặc biệt khi học tiếng có thanh điệu như tiếng Việt.
  • Âm nhạc: Đôi khi thanh điệu còn ảnh hưởng đến cách người ta đặt lời bài hát nữa, làm sao cho nó xuôi tai.

Thôi, nhiêu đó đủ chưa? Mệt quá. Đi ăn cơm đây bây.

tiếng Việt hiện đại có bao nhiêu thanh điệu?

Tao trả lời bây.

Chiều Hà Nội dạo này hay có mưa. Tao ngồi bên ô cửa sổ cũ kĩ nhà bà ngoại, nhìn xuống con ngõ nhỏ ẩm ướt. Bây hỏi tao tiếng Việt có mấy thanh điệu. Một câu hỏi làm tao thấy lòng mình chùng xuống, như thanh huyền vậy.

Sáu cái thanh âm lơ lửng trong không gian đặc quánh này. Thanh ngang, nó không có dấu, nó cứ im lìm như mặt hồ thu phẳng lặng. Thanh sắc thì vút lên, một nét xiên kiêu hãnh trên con chữ. Như một cái liếc mắt. Sắc lẻm.

Rồi thanh huyền, nó cứ đi xuống, nặng trĩu một nỗi buồn không tên. Thanh hỏi thì lượn một vòng, ngập ngừng như muốn níu kéo. Còn thanh ngã, ôi cái thanh ngã của tiếng Bắc nó gãy gọn, day dứt, nghe như tiếng nấc. Bà ngoại tao phát âm dấu ngã hay lắm.

Còn thanh nặng là một dấu chấm kết thúc. Một điểm rơi cuối cùng, gọn ghẽ và dứt khoát. Sáu thanh điệu đó, sáu cung bậc đó, nó là cả một bản nhạc của tiếng Việt. Một bản nhạc mà tao nghe hoài từ bé. Nghe hoài không chán.

  • Tiếng Việt hiện đại có 6 thanh điệu. Hệ thống này dựa trên chữ Quốc ngữ và là một phần cốt lõi của ngôn ngữ.

  • Thanh Ngang (không dấu): Âm đi ngang và cao. Ví dụ: ma, ba, la.

  • Thanh Sắc (dấu ´): Âm đi lên từ mức trung bình. Ví dụ: má, bá, lá.

  • Thanh Huyền (dấu `): Âm đi xuống và thấp. Ví dụ: mà, bà, là.

  • Thanh Hỏi (dấu hỏi): Âm đi xuống rồi đi lên. Ví dụ: mả, bả, lả.

  • Thanh Ngã (dấu ~): Âm đi lên, bị ngắt quãng ở giữa (giọng Bắc). Ví dụ: mã, bã, lã.

  • Thanh Nặng (dấu .): Âm thấp, kết thúc đột ngột. Ví dụ: mạ, bạ, lạ.

  • Không có một quy định cụ thể nào lấy cách phát âm của một phương ngữ duy nhất làm chuẩn mực tuyệt đối cho cả 6 thanh điệu này trên toàn quốc. Sự khác biệt trong cách phát âm thanh hỏi và thanh ngã giữa các vùng miền là rõ rệt nhất.

Tuân thủ luật bằng trắc là gì?

Tuân thủ luật bằng trắc là việc sắp xếp các từ theo đúng thanh điệu bằng (thanh không dấu, dấu huyền)thanh điệu trắc (dấu sắc, hỏi, ngã, nặng) vào những vị trí quy định trong thơ ca cổ điển Việt Nam, nhằm tạo nhịp điệu, hòa âm và tính nhạc.

"Tuân thủ luật bằng trắc" hả Bây? Nghe tên đã thấy nó như "môn võ" dành cho ngôn ngữ rồi đó, nhưng thật ra nó là cái "bí kíp" để câu thơ mình có hồn, có phách, chứ không phải nói phét đâu.

Nói nôm na, đây là nghệ thuật sắp xếp thanh điệu trong thơ ca truyền thống, đặc biệt là lục bát. Kiểu như mình pha trà sữa thì phải đong đường, đong sữa cho đúng vị vậy. Đứa nào mà bỏ lộn, y như làm hỏng ly trà, mất hết cả cái duyên.

Thử nghĩ xem, một bài thơ mà bằng trắc nó cứ nhảy tưng tưng như ngựa sổ chuồng, tai nghe đã thấy "trật nhịp" rồi. Nó có luật riêng, như nhạc giao hưởng vậy, phải đúng nốt, đúng phách thì mới "đánh trúng tim đen" người nghe được.

Nhiều khi đọc lên nghe cứ "cụt lủn" hay "lênh đênh" thì biết ngay là đứa nào đó quên bài tập bằng trắc rồi đó. Cái luật này nó khó nhằn lắm nha, không phải ai cũng thuộc làu làu đâu.

Có khi phải ngồi vò đầu bứt tóc cả buổi chỉ để tìm một từ có thanh trắc đúng vị trí. Cứ như chơi game "xếp hình" tiếng Việt vậy, sai một ly là đi cả bài thơ, hỏng bét!

Để Bây dễ hình dung hơn, Tao "điểm danh" mấy loại thanh điệu cho nghe:

  • Thanh Bằng: Đám này "hiền lành" lắm, gồm thanh không dấu (ngang) và thanh huyền. Tưởng tượng nó như nốt trầm, nhẹ nhàng, êm ái, cứ lướt trên mặt hồ không gợn sóng.

  • Thanh Trắc: Đây mới là "đám cá tính" nè, gồm các dấu sắc, hỏi, ngã, nặng. Mấy thằng này mạnh mẽ, tạo điểm nhấn, như nốt cao vút bất chợt hay tiếng trống dứt khoát vậy đó.

  • "Luật chơi" cơ bản (kiểu Lục Bát): Thường thì câu 6 chữ sẽ có tiếng thứ 2, 4, 6 là Bằng, Trắc, Bằng. Câu 8 chữ thì tiếng thứ 2, 4, 6, 8 là Bằng, Trắc, Bằng, Trắc. Cứ thế mà nối vần, nối thanh như xây nhà, sai viên gạch là "thơ đổ" ngay.

  • Mục đích sâu xa: Không chỉ là tuân thủ luật, mà là để tạo nên nhạc tínhsự cân đối cho câu thơ, giúp lời thơ dễ đi vào lòng người hơn, như một bản nhạc trữ tình sâu lắng. Không có nó, thơ mình dễ thành văn xuôi có vần thôi.

Luật bằng trắc trong thơ lục bát là gì?

Tao nhớ lần đó, lúc còn đang học lớp 10, trường tao có tổ chức cuộc thi làm thơ. Tao hăm hở lắm, đêm đó ngồi cày quy tắc bằng trắc điên cuồng. Trong lúc loay hoay với đám dấu sắc, hỏi, ngã, nặng, tao thấy nó cứ lằng nhằng sao á. Tao đinh ninh là dấu nặng với dấu ngã là "bằng", còn mấy cái kia "trắc". Ôi trời ơi, cái bài thơ tao làm xong bị cô giáo sửa te tua, chỉ vì cái tội nhầm lẫn "bằng" với "trắc".

Lúc đó tức ơi là tức, nhưng giờ nghĩ lại thấy cũng mắc cười. Cơ bản là tao bị cái "ngang" và "huyền" nó đánh lừa. Đúng là thanh ngang với thanh huyền mới là Bằng, còn lại Sắc, Hỏi, Ngã, Nặng là Trắc hết. Dù sao thì cũng là một bài học nhớ đời, nhờ cái lần đó mà tao thuộc làu cái quy tắc này luôn.

  • Quy tắc Bằng Trắc trong thơ lục bát:

    • Thanh Bằng: Thanh ngang (không dấu), Thanh huyền (dấu huyền).
    • Thanh Trắc: Thanh sắc (dấu sắc), Thanh hỏi (dấu hỏi), Thanh ngã (dấu ngã), Thanh nặng (dấu nặng).
  • Tầm quan trọng: Việc vận dụng đúng quy tắc bằng trắc giúp câu thơ lục bát có vần điệu, nhạc điệu uyển chuyển, tạo cảm xúc và dễ đi vào lòng người. Sai luật bằng trắc sẽ làm câu thơ bị "cứng", "gai", mất đi vẻ đẹp vốn có.

Luật trắc vần bằng là gì?

Tao nhớ hồi tiểu học, tầm lớp 5 hay 6, cô giáo bắt viết thơ lục bát. Trời ơi, cái vụ trắc bằng này nó ám ảnh tao ghê. Ngồi vò đầu bứt tóc ở cái bàn học cũ, dưới ánh đèn vàng vọt, nhìn tập giấy trắng mà chữ nghĩa cứ lẩn tránh.

Mấy đứa trong lớp cứ nói chữ thứ hai của câu đầu tiên mà bằng là bằng, trắc là trắc. Rồi còn cái vụ 2-4-6 nữa. Tao lộn tùng phèo hết. Nhớ có lần viết xong, đưa cô chấm, cô gạch đỏ lòm, bảo "câu này sai vần, câu kia sai thanh". Tối đó tao buồn thiu, ăn cơm không vô.

Bữa sau, tao quyết định hỏi bà nội. Bà nội tao ngồi đan len ở hiên nhà, nắng chiều hắt vào vàng rực. Bà cười hiền, giảng cho tao nghe. Bà bảo: "À, cái này dễ thôi con ơi. Thanh bằng là không dấu hoặc dấu huyền, còn thanh trắc là sắc, hỏi, ngã, nặng". Tự nhiên tao thấy à ra thế.

Bà giải thích thêm, cái chữ thứ hai trong câu đầu tiên quyết định luật bài thơ, nó là bằng thì cả bài theo bằng, là trắc thì cả bài theo trắc. Từ đó, cái khung thơ nó hiện ra rõ ràng trong đầu tao.

Còn nữa, trong một câu thì chữ thứ hai với chữ thứ sáu phải cùng thanh, còn chữ thứ tư thì phải khác hai cái kia. Nghe xong tao thấy nó logic ghê. Từ đó về sau, tao viết thơ lục bát ít bị cô gạch hơn hẳn, cảm giác như mình giỏi hẳn ra.

Luật Trắc Vần Bằng trong thơ Lục Bát:

  • Xác định luật toàn bài:

    • Luật Bằng: Chữ thứ hai của câu đầu tiên dùng thanh bằng (không dấu, huyền).
    • Luật Trắc: Chữ thứ hai của câu đầu tiên dùng thanh trắc (sắc, hỏi, ngã, nặng).
  • Quy tắc thanh điệu trong một câu thơ:

    • Chữ thứ hai và chữ thứ sáuthanh điệu giống nhau.
    • Chữ thứ tưthanh điệu khác chữ thứ hai và thứ sáu.
  • Phân loại thanh điệu:

    • Thanh Bằng: Thanh ngang (không dấu), thanh huyền.
    • Thanh Trắc: Thanh sắc, thanh hỏi, thanh ngã, thanh nặng.