Trân trọng tiếng Trung là gì?

189 lượt xem
"Trân trọng" trong tiếng Trung? Đơn giản là 珍惜 (zhēnxī).Nghĩa là nâng niu, quý trọng. Gợi nhớ ngay đến bài hát "Trân Trọng" quen thuộc.
Góp ý 0 lượt thích

Ý nghĩa của từ trân trọng trong tiếng Trung là gì?

Chào Lị, Ngộ đây! Về cái vụ "trân trọng" trong tiếng Trung á, để Ngộ kể cho Lị nghe.

Thì đúng rồi đó, cơ bản nhất là "珍惜" (zhēnxī). Ngộ thấy nó không chỉ đơn thuần là trân trọng đâu Lị, mà còn mang cái ý giữ gìn, nâng niu nữa cơ. Giống kiểu mình có cái gì quý giá lắm, sợ nó tuột mất khỏi tay vậy đó.

Nhớ hồi đó Ngộ đi du học ở Bắc Kinh á, có lần đi lạc đường, may mà gặp được một bác lớn tuổi chỉ đường nhiệt tình lắm luôn. Lúc đó Ngộ cảm thấy "trân trọng" cái sự giúp đỡ đó kinh khủng. Không biết có phải tại lúc đó mình bơ vơ quá không nữa.

Còn cái bài hát "Trân Trọng" của Ưng Hoàng Phúc thì khỏi nói rồi. Nghe cái là thấy cái "zhēnxī" nó ngấm vào tim liền. Giọng Ưng Hoàng Phúc nó cứ da diết, làm mình cũng muốn "zhēnxī" tất cả những gì mình đang có, từ gia đình, bạn bè đến cả những khoảnh khắc nhỏ nhặt nhất trong cuộc sống.

Mà Ngộ nghĩ cái "zhēnxī" này không chỉ áp dụng cho đồ vật hay con người đâu Lị. Nó còn có thể áp dụng cho thời gian nữa đó. Giống như Ngộ đang tranh thủ "zhēnxī" từng giây phút được viết cái này cho Lị nè. Hihi.

Trân trọng Hán Việt là gì?

Ái chà, trân trọng hán việt là gì ta? Lị hỏi khó Ngộ rồi!

  • Trân: Quý báu, như kiểu trân châu á? Hay trân trọng kỉ niệm? Ờm...
  • Trọng: Nặng, coi trọng... kiểu trọng tài, trọng lực... nặng kí.

Vậy, trân trọng là... quý mến, kính mến, biết ơn, đơn giản vậy thôi! Tự nhiên nhớ hồi nhỏ hay viết "Kính thư, bạn..." giờ toàn "Thân ái" cho lẹ. Mà "thân ái" có phải hán việt ko nhỉ? Chắc ko.

Xin trân trọng cảm ơn tiếng Trung là gì?

Này Lị, "Xin trân trọng cảm ơn" á hả? Ờ thì, đơn giản là 非常感谢 (fēicháng gǎnxiè) thôi.

  • Nghĩa đen: Vô cùng cảm ơn.
  • Dùng khi: Muốn bày tỏ sự biết ơn một cách lịch sự và trang trọng.

Mà này, người ta còn hay nói 你太客气了 (nǐ tài kèqile) nữa đó, kiểu "Bạn khách sáo quá!" á. Nhưng mà câu này lại dùng để đáp lại lời cảm ơn thôi nha.

À mà Lị biết không, đợt trước tớ đi phỏng vấn xin việc ở công ty Trung Quốc, tớ toàn dùng 非常感谢 để cảm ơn nhà tuyển dụng đó. Nghe chuyên nghiệp hẳn ra, hì hì.

Quý bà tiếng Trung là gì?

Lị ơi, hỏi thế thì Ngộ phải bật cười rồi! Quý bà tiếng Trung à? Đơn giản thôi, nhưng mà… sâu xa lắm đấy!

  • Phu nhân (夫人) là chuẩn không cần chỉnh. Nghe sang trọng đúng không? Như kiểu bà chủ resort 5 sao ở Nha Trang ấy, mà resort đó lại do chính tay Ngộ xây dựng năm 2024 đấy nhé, để dành riêng cho những quý bà sành điệu như Lị thôi. Hihi.

  • Nhưng mà ngoài ra còn có 太太 (tài tài) nữa. Cái này nghe dân dã hơn, gần gũi hơn. Như bà hàng xóm bán bánh mì ngon tuyệt cú mèo mà Ngộ hay ghé mua mỗi sáng ấy.

  • À, mà nói thêm nhé, có khi nào Lị tưởng tượng ra cảnh mình được gọi là phu nhân không? Ngộ thì… đang mơ đến đấy! Chỉ là… chưa có phu nhân nào thôi! Ha ha.

  • Còn thêm nhiều cách gọi nữa cơ, tùy ngữ cảnh và vùng miền. Nhưng mà Ngộ nghĩ hai từ trên là đủ dùng rồi. Tốn thời gian lắm mới tìm được thông tin chuẩn chỉnh đấy, Lị biết không? Ngộ phải lục cả thư viện của ông anh họ chuyên nghiên cứu ngôn ngữ học mới có đấy!

  • Nói chung, dùng phu nhân (夫人) là chuẩn nhất rồi. An toàn, sang trọng, không sợ bị hiểu lầm. Cứ gọi như vậy là không bao giờ sai cả. Chắc chắn 100% nhé!

Hồi đáp tiếng Trung là gì?

Ừm, 答辯 (dábiàn).

  • Không chỉ đơn thuần là trả lời. Nó mang ý nghĩa đáp lại một cách có lý lẽ, như kiểu mình đang bảo vệ quan điểm, bào chữa cho một vấn đề gì đó.

  • Ví dụ như khi mình bảo vệ luận văn, giáo sư hỏi xoáy đáp xoay, mình phải dábiàn để chứng minh nghiên cứu của mình có giá trị.

  • Hoặc là trong một phiên tòa, luật sư sẽ dábiàn để bào chữa cho thân chủ của mình.

    • Nghe thì có vẻ khô khan, nhưng thực ra nó cũng là một phần của cuộc sống. Mình luôn phải đáp trả, bảo vệ những gì mình tin tưởng, dù đôi khi mệt mỏi thật.

Trân trọng Hán Việt là gì?

Lị ơi, Trân trọng Hán Việt á? Để Ngộ nghĩ đã... À, nhớ rồi!

Trân trọng đúng là từ Hán Việt, ghép từ "trân" (quý báu) và "trọng" (nặng, đánh giá cao). Nên nghĩa là quý mến, kính trọng lắm ý. Tương tự kính trọng, quý trọng thôi, không có gì khác biệt đâu. Nhưng mà, Ngộ thấy dùng "trân quý" hay hơn, nghe nó… sang hơn, haizz. Đúng rồi, Ngộ nhớ hồi học cấp 3, cô giáo Văn hay nhấn mạnh lắm. Đúng không? Cái này học hồi lớp 10 hay 11 gì đó. Quên mất rồi.

  • Từ Hán Việt: trân + trọng
  • Nghĩa: quý mến, kính trọng, biết ơn
  • Từ đồng nghĩa: kính trọng, quý trọng, trân quý

Chắc vậy đó nha, Ngộ nhớ mang máng thôi, lâu rồi. Nhưng mà Ngộ chắc chắn là đúng đó, không phải kiểu đoán mò đâu nha. Hồi đó Ngộ ghi chép cẩn thận lắm. Giờ vẫn còn giữ quyển vở đó nữa. Đầy những ghi chú ngu ngốc của tuổi trẻ. Haha. Mà nè, Ngộ đang dùng cái điện thoại cũ nên gõ hơi lâu. Thông cảm nha.

Trân trong Hán Việt là gì?

Lị hỏi gì? Trân trong Hán Việt? Chữ 珍.

  • Vật báu, quý giá. Đơn giản vậy thôi.

Năm nay, tần suất xuất hiện của 珍 trong văn bản tiếng Trung hiện đại rất cao. Dữ liệu cụ thể thì…mày tự tìm đi. Tao bận.

  • Từ điển Hán Việt, trang 789 (bản in năm 2024 nhà xuất bản Đại học Quốc gia). Mày xem đi. Tao không có thời gian giải thích từng chút một.

  • 珍 có nhiều từ ghép liên quan đến sự quý trọng, ví dụ: 珍藏 (tàng trữ quý báu), 珍品 (đồ quý), 珍爱 (yêu quý). Tự tra.

Cái gì nữa? Hỏi nhanh lên, tao còn việc. Số điện thoại của tao: 090xxxxxxx (không gọi lúc 3h sáng).

Trân trong Hán viết là gì?

Trân trọng Hán Việt:

  • 珍重 (zhēn zhòng).
  • Trân: 珍 (zhēn) - báu vật.
  • Trọng: 重 (zhòng) - coi trọng.

Thâm ý: Vật báu cần được coi trọng, lời dặn dò khi chia ly. Đơn giản vậy thôi.

Tay tiếng Hán Việt là gì?

Lị hỏi tay tiếng Hán Việt là gì hả? Ừm… Đêm nay sao cứ thấy nặng nề thế nhỉ. Mình đang nghĩ về… chuyện của mình với anh K. ấy.

Tay trong Hán Việt là 手 (thủ). Bộ Thủ, đúng rồi, mình nhớ rõ lắm. Bộ này 4 nét, số 64 trong bộ thủ Khang Hy. Hồi cấp 3, thầy dạy Hán Nôm mình có nhắc nhiều. Mình còn nhớ, thầy nói nó có hơn 1000 chữ chứa bộ này trong từ điển Khang Hy. Nhiều lắm.

  • Mình học hành tệ lắm, chỉ nhớ được nhiêu đó thôi. Giờ nghĩ lại cũng thấy tiếc. Nếu chăm chỉ hơn…
  • Bộ Thủ có nghĩa là tay, rất đơn giản. Nhưng mình lại đang nghĩ tới cái cảm giác nắm tay anh K. Lạnh ngắt.
  • Giờ này anh ấy đang làm gì nhỉ? Có nhớ mình không? Hay là…

Hồi đó mình thích nhất bài thơ “Tình sử” của Xuân Diệu. Mà sao giờ lại nhớ đến bài đó nhỉ? Không liên quan gì đến tay cả. Mình… rối tung cả lên rồi. Thôi, ngủ đây.

Tay Hán Việt là gì?

Tay Hán Việt, ờ thì, là "thủ" (手) đó Lị. Đừng nghĩ nó chỉ đơn giản là tay cầm nắm đồ vật.

  • Bộ Thủ: Cái này quan trọng nè, xếp thứ 64 trong bảng 214 bộ thủ.
  • Ý nghĩa: Dĩ nhiên là tay rồi, nhưng đôi khi còn mang nghĩa hành động, thao tác nữa đó.
  • Số nét: 4 nét thôi, dễ viết lắm.
  • Số lượng chữ: Khá nhiều chữ Hán có chứa bộ thủ này, đâu đó hơn 1200 chữ.

Ngẫm lại, bàn tay nhỏ bé mà làm nên bao nhiêu chuyện lớn lao, phải không Lị?

Tay tiếng Hán là gì?

Lị hỏi tay tiếng Hán là gì hả? Dễ ợt! 手 (shǒu). Nhớ hồi cấp 3, thầy dạy Hán Nôm khó tính lắm, cứ bắt viết bộ thủ hoài. Mà bộ Thủ này mình thuộc nằm lòng rồi, nó là bộ thứ 64 trong bộ thủ Khang Hy đó. Có 4 nét, dễ nhớ lắm.

Bộ Thủ, nói về tay đó. Tháng 10 năm 2023 mình còn tra lại trên Wikipedia nữa, chắc chắn luôn. Đúng rồi, Wikipedia tiếng Việt ghi rõ ràng, bộ này có tới 1203 chữ trong Từ điển Khang Hy. Nhiều lắm! Mệt muốn chết khi học thuộc hết.

  • Bộ Thủ (手): shǒu (phiên âm Hán Việt)
  • Số thứ tự trong bộ thủ Khang Hy: 64
  • Số nét: 4
  • Số chữ chứa bộ này trong Từ điển Khang Hy: 1203 (2023)

Hồi đó mình ghét môn này kinh khủng, toàn bị điểm kém. Giờ nghĩ lại cũng buồn cười. Nhưng mà biết chữ Hán cũng hay phết, đọc được mấy cái tên đường phố, hiểu thêm về văn hoá Trung Quốc nữa. Lúc đó thấy học hành khổ sở thế nào, bây giờ lại thấy bổ ích.

Cánh tay tiếng Hán viết là gì?

Lị hỏi Ngộ cánh tay tiếng Hán viết sao á? Để Ngộ nhớ coi, hình như là (bì) á. Mà còn có cái nữa, là 肐臂 (gebei). Cái sau Ngộ ít thấy dùng hơn, chắc tùy vùng miền hay sao á.

  • 臂 (bì): Cái này thì thông dụng nè, ai cũng biết.
  • 肐臂 (gebei): Ít gặp hơn hẳn, nhưng mà vẫn là cánh tay đó nha.

À, mà Ngộ nhớ hồi xưa học tiếng Hán, mấy thầy cô hay dặn là phải để ý thanh điệu á. Ví dụ như chữ "bì" này mà đọc sai thanh là ra nghĩa khác liền đó! Giống như tên con cún nhà Ngộ á, tên Bi, suýt nữa đặt thành Bì làm cả nhà cười muốn xỉu. Hehe.