Rừng Hán Việt là gì?

80 lượt xem
Rừng Hán Việt: "Rừng" trong ngữ cảnh Hán Việt thường gợi liên tưởng đến sự phong phú, đa dạng. Chữ "Lâm" (林) biểu thị rừng cây, tượng trưng cho sự sum suê, trù phú của thiên nhiên và sự sinh sôi, nảy nở. Ý nghĩa này thường được dùng để chỉ sự tập hợp nhiều yếu tố tương tự, tạo nên một chỉnh thể lớn mạnh.
Góp ý 0 lượt thích

Rừng Hán Việt là gì? Ý nghĩa và nguồn gốc của từ Rừng Hán Việt?

Ê bây, để tao kể cho nghe vụ "rừng Hán Việt" này nhé. Nghe thì có vẻ ghê gớm, nhưng thật ra nó ám chỉ cái đống từ mượn từ tiếng Hán mà mình xài đầy ra đó.

Chắc mày cũng biết, hồi xưa Việt Nam mình chịu ảnh hưởng của Trung Quốc dữ lắm. Nên là một đống từ ngữ nó chui tọt vào tiếng Việt mình luôn. Ví dụ như "giang sơn", "tổ quốc", "văn hóa" đó.

"Rừng Hán Việt" là để chỉ số lượng lớn những từ này, như một khu rừng bạt ngàn vậy đó. Cái hay là nhiều từ mình xài quen đến nỗi chả biết nó từ đâu tới luôn.

Còn cái chữ "lâm" 林 trong tiếng Hán ấy hả? Thì đúng rồi, nó là "rừng". Tao nhớ hồi nhỏ học chữ Hán, thầy giáo bảo hai cái cây (木) chụm lại thành rừng đó. Cũng dễ nhớ mà, phải không?

Rừng trong Hán Việt là gì?

Bây hỏi rừng trong Hán Việt á? Ờ thì...

  • Mộc 木 là cây, cái này ai chả biết.
  • Hai chữ mộc 林 là lâm, lâm tặc hay phá rừng là đây.
  • Ba chữ mộc 森 là sâm, kiểu rừng sâm U Minh á? Hay sâm nhung quế phụ gì đó.
  • Mà sao tự dưng lại hỏi rừng rú làm gì nhỉ? Định đi trốn hả bây? Hay đang viết văn tả cảnh? Hay lại đang học thuộc lòng mấy cái chữ Hán loằng ngoằng này? Haizz, học làm gì cho mệt óc, tao toàn google dịch, hế hế.
  • À mà nhắc đến rừng mới nhớ, hôm trước tao đi Đà Lạt, vào cái rừng thông mà chụp ảnh muốn xỉu luôn. Đông kinh khủng! Cứ tưởng mình là nàng thơ ai dè thành con ngơ.

Lâm nghĩa Hán Việt là gì?

Bây hỏi hay đấy! Để tao giải thích cho mà nghe, kiểu nửa mùa hàn lâm, nửa mùa đời thường nhé:

Lâm (林) trong Hán Việt:

  • Nghĩa đen: Rừng. Đúng như bây nói, hai chữ "mộc" (木) ghép lại thành "lâm", tượng trưng cho nhiều cây cối sum suê.
  • Nghĩa bóng: Thường dùng để chỉ sự tập trung, tụ hội, đông đúc. Ví dụ như "lâm tặc" (tập hợp những kẻ trộm gỗ). Hay đôi khi còn mang ý chỉ sự phát triển, thịnh vượng như "lâm nghiệp".

Nghía thêm chút: Chữ "lâm" này, nhìn thì đơn giản vậy thôi, nhưng nó còn gợi cho tao nhớ đến câu "Nhân sinh như ký, phù sinh nhược mộng." (Đời người như khách, phù sinh như mộng). Ý nói đời người ngắn ngủi, cũng như cái cây trong rừng, rồi cũng tàn lụi thôi.

Về chữ Triện và 12 cách viết khác: Cái này thì thú vị nè. Chữ Triện là kiểu chữ cổ, dùng nhiều trong ấn triện. Việc chữ "lâm" có nhiều cách viết khác nhau cho thấy nó đã trải qua quá trình biến đổi, phát triển lâu dài trong lịch sử.

Lắt léo chữ nghĩa: Hàn lâm:

  • Thường được dùng để chỉ những người uyên bác, học rộng tài cao, có kiến thức chuyên sâu trong một lĩnh vực nào đó.
  • Tuy nhiên, đôi khi "hàn lâm" lại mang ý chỉ trích, ám chỉ những người chỉ giỏi lý thuyết suông, xa rời thực tế.

Vậy đó, "lâm" không chỉ là rừng cây, mà còn là cả một thế giới ý nghĩa ẩn sau nó.

Lin tiếng Trung là gì?

Bây hỏi gì thế? Linh tiếng Trung á? Tao nói cho nghe này, Linh không phải là họ thông dụng lắm đâu nha. Tao thấy nhiều người nhầm với Lâm hơn.

Lâm mới là họ phổ biến trong tiếng Trung, viết là 林 (Lín). Họ này nổi tiếng lắm đó. Tao có đứa bạn họ Lâm, ở tận Quảng Đông. Nó bảo họ Lâm đông lắm ở quê nó, đi đâu cũng gặp.

  • Họ Lâm ở Đài Loan xếp thứ hai luôn nha, khủng khiếp chưa!
  • Nhưng ở Trung Quốc đại lục thì tụt xuống hạng 17 rồi. Chắc vì dân số nhiều quá nên phân tán ra.
  • Nhiều người họ Lâm sống ở nước ngoài nữa, đặc biệt là ở Mỹ, Canada. Tao thấy trên Facebook nhiều lắm.

À mà, tao nhớ hồi hè vừa rồi, tao có đọc được bài báo nói về sự phân bố của họ Lâm ở Việt Nam nữa. Có vẻ không nhiều lắm, chủ yếu là do người Hoa di cư sang thôi. Khó nói chính xác số lượng. Tao tìm lại xem nào... À quên, để lát nữa tao gửi link cho. Tìm mãi không thấy rồi. Tóm lại, Lâm (林, Lín) mới đúng nha. Đừng nhầm với Linh nữa nhé. Tao nói nhiều rồi đấy.

Sum họp tiếng Hán Việt là gì?

Bây. Tao nghĩ… Sum họp á? Chắc là… 团圆 (tuán yuán) hay 相聚 (xiāng jù) gì đó. Tao không nhớ rõ lắm, hồi cấp 3 học qua rồi, giờ quên gần hết. Nhưng mà… cảm giác sum họp… nó ấm áp lắm.

  • Nhớ hồi Tết năm nay, cả nhà quây quần bên mâm cơm, đứa nào cũng cười nói rôm rả. Bà ngoại kể chuyện ngày xưa, ông nội thì cứ chăm chăm nhìn tụi nhỏ chơi đùa. Cái khoảnh khắc đó… nó bình yên đến lạ.
  • Năm ngoái… khác hẳn. Anh hai đang công tác ở nước ngoài, không về được. Cả nhà cứ thiếu thiếu cái gì ấy. Bữa cơm… im lặng hơn. Buồn lắm.

团聚 (tuán jù) mà mày nói… hình như là… đoàn tụ, tập trung đông đủ người lại với nhau. Còn 相聚 (xiāng jù) thì có vẻ… gặp gỡ, sum họp với nhau, kiểu thân mật hơn. Tao không chắc lắm đâu nha. Tao chỉ nhớ mang máng thôi. Nghe quen quen, nhưng mà… quên mất rồi. Giờ tìm lại sách vở chắc cũng khó.

团圆 (tuán yuán) và 相聚 (xiāng jù) đều có nghĩa liên quan đến sum họp, nhưng sắc thái hơi khác nhau. Cái này… thật ra tao cũng chả nhớ rõ. Chỉ nhớ mỗi cái cảm giác thôi. Đêm nay… buồn ghê.