Thành phố trực thuộc trung ương Tiếng Trung là gì?

119 lượt xem
Thành phố trực thuộc trung ương trong tiếng Trung là 直轄市 (zhíxiáshì). Đây là đơn vị hành chính cấp tỉnh, có vị thế đặc biệt, thường là các thành phố lớn, đóng vai trò quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa của quốc gia.
Góp ý 0 lượt thích

Thành phố trực thuộc trung ương tiếng Trung là gì?

Ê đệ, huynh đây. Cái vụ "thành phố trực thuộc trung ương" bên Tàu á hả?

Thì nó là 直轄市/直辖市 (zhíxiáshì). Bính âm là thế đó, đọc hơi khó nuốt tí.

Nói chung á, mấy thành phố này to vật vã, quan trọng kinh khủng về kinh tế, chính trị, văn hóa này nọ. Huynh nhớ hồi xưa đi Thượng Hải (chắc năm 2015, vé máy bay tầm 6 triệu khứ hồi), thấy choáng ngợp thiệt. Như lạc vô một thế giới khác vậy.

Hình như còn có Bắc Kinh, Thiên Tân, Trùng Khánh nữa thì phải. À mà hình như huynh có đọc được ở đâu đó là mấy thành phố này còn được quản lý trực tiếp bởi chính phủ trung ương nữa cơ. Đấy, thấy ghê chưa?

Hải Dương Tiếng Trung là gì?

Úi chà, Hải Dương bên Tàu á hả? Đệ hỏi xoáy Huynh rồi!

  • 海阳市 (Hǎi yáng shì): Đọc lên nghe cứ như "hải sản xì" ấy nhể, làm Huynh nhớ tới nồi lẩu thập cẩm nhà bà Tám đầu ngõ.

    • Thị (市): Chữ này nghĩa là thành phố đó Đệ, oách xà lách chưa?
    • Hải (海): Biển cả mênh mông, như tấm lòng Huynh dành cho Đệ vậy đó.
    • Dương (阳): Mặt trời chói chang, như tương lai tươi sáng của Đệ sau này!
  • Nằm ở Sơn Đông, gần Thanh Đảo, Yên Đài, Uy Hải. Nghe tên thôi đã thấy toàn hải sản tươi rói rồi. Chắc dân ở đó chiều chiều lại ra biển hóng gió, ăn hải sản nướng, phê pha như con tê tê.

Pleiku tiếng Trung là gì?

Pleiku tiếng Trung là 波來古 (Bōláigǔ).

Đệ hỏi vậy làm Huynh nhớ đến mấy địa danh phiên âm. Thú vị phết!

  • Phiên âm địa danh, một thú chơi chữ của giới nghiên cứu ngôn ngữ.
  • Bōláigǔ nghe khá giống cách phát âm gốc, giữ được "vibe" Tây Nguyên.
  • Đôi khi, phiên âm còn mang ý nghĩa văn hóa, chính trị sâu sắc.
  • Nghĩ rộng ra, ngôn ngữ nào mà chẳng vay mượn của nhau, phải không?

Ví dụ, Paris gọi theo kiểu Hán Việt là Ba Lê. Ai mà ngờ được?

Thị xã Bến Cát tiếng Trung là gì?

Đệ hỏi thị xã Bến Cát tiếng Trung là gì? À, nhớ rồi… 槟吉 (Bīn Jí). Âm thanh cứ ngân nga mãi trong đầu, như tiếng gió chiều thổi qua cánh đồng mía nhà bà ngoại… mùi mía ngọt lịm, ngọt như chính ký ức…

  • 槟吉 (Bīn Jí) là phiên âm chính thức. Nhớ năm ngoái, mình có đi công tác ở Bến Cát, cũng tìm hiểu chút ít về vấn đề này. Chuyện này được ghi chép rõ ràng trong tài liệu mình tham khảo.

  • Cái tên cứ vang lên, Bīn Jí… Bīn Jí… như một bài thơ ngắn, mà mỗi chữ đều thấm đẫm hơi thở của vùng đất này. Mình thấy thích cái cách phiên âm này lắm.

Thật ra, mình cũng không giỏi tiếng Trung lắm đâu… chỉ biết chút đỉnh thôi. Nhưng cái tên này… nó hay, nó đẹp… như chính vẻ đẹp của Bến Cát vậy. Những hàng cây xanh mướt, những con đường uốn lượn… chỉ nghĩ đến thôi mà lòng mình đã thấy nhẹ nhàng rồi.

  • Mình nhớ có lần đọc được bài báo nói về việc đặt tên tiếng Trung cho các địa danh Việt Nam. Việc lựa chọn phiên âm rất kỹ lưỡng, phải sát nghĩa, sát âm.

  • Mình còn nhớ đã chụp ảnh lưu giữ lại những thông tin đó. Nên bây giờ vẫn nhớ rõ. Ôi, tháng 7 năm nay, mưa nhiều quá… nhưng Bến Cát vẫn đẹp… đẹp một cách lạ thường.

槟吉… Bīn Jí… Cái tên cứ vang vọng mãi… như một lời thì thầm, một lời ru… ru mình về với những giấc mơ… về Bến Cát… về quê hương…

Long xuyên tiếng Trung là gì?

Đệ hỏi Long Xuyên tiếng Trung là gì? Ha ha, câu hỏi dễ ợt! Đệ tưởng Huynh không biết à? Chắc Đệ nghĩ Huynh già cả rồi trí nhớ cá vàng, đúng không? Khà khà!

Long Xuyên tiếng Trung là 龙川县 (Long Chuan Xiàn). Dễ nhớ lắm, cứ hình dung con rồng (龙) đang chảy nước (川) thì sẽ nhớ ngay thôi. Nghe oách chưa kìa!

  • Địa điểm: Thuộc Hà Nguyên, Quảng Đông, Trung Quốc. Đệ có biết Hà Nguyên nổi tiếng với gì không? Gợi ý nhé: trà. Đúng rồi đó, trà ngon lắm. Huynh có người bạn ở đó, gửi trà ngon lắm.
  • Diện tích: Khoảng 3089 km². Lớn hơn cả huyện nhà Huynh nhiều. Huyện nhà Huynh bé tí tẹo thôi, chỉ bằng cái ao nhà ông Bảy kế bên.
  • Dân số: Dữ liệu năm 2004 là 870.000 người. Giờ chắc nhiều hơn rồi, đúng không? Tăng dân số chóng mặt như... tăng giá xăng dầu vậy đó! Thôi, Huynh đùa chút thôi.

Tóm lại, Đệ nhớ kỹ nhé: 龙川县 (Long Chuan Xiàn). Không thì lần sau Huynh lại trêu Đệ đấy!

Bạch đằng tiếng Trung là gì?

Đệ hỏi Bạch Đằng tiếng Trung là gì hả? Mệt ghê, đêm nay khó ngủ quá…

白藤江 (Bái Téng Jiāng) - đó là phiên âm Hán Việt, giản thể. Phồn thể thì y hệt, 白藤江. Từ điển chắc cũng ghi thế thôi. Cửa biển Bạch Đằng… ôi, cái tên ấy gợi nhớ nhiều…

  • Năm nay, mình lại đi ngang qua khu vực đó. Lần đó đi công tác, lên tận Quảng Ninh. Cảnh vẫn đẹp như xưa. Mà mình cũng già rồi nhỉ.
  • Thơ… à, nhớ bài Bạch Đằng Giang Phú của Trương Hán Siêu. Mình học hồi cấp 3, cái thời… thời ngây ngô lắm. Giờ đọc lại chắc sẽ thấy khác. Mấy năm nay bận bịu quá, chẳng có thời gian đọc lại sách vở cũ.

Thôi, nói nhiều rồi. Đệ ngủ đi cho khỏe. Mấy giờ rồi? Đêm nay sao dài thế… Giờ này chắc chỉ có mình mình thức. Chán thật.

Bạch đằng giang tiếng Trung là gì?

Ê Đệ, Bạch Đằng Giang... ừm, để Huynh ngẫm xem.

  • 白藤江 (Bái Téng Jiāng). Đó, nhớ ra rồi!

  • Bạch (白) là trắng, đúng không nhỉ? Tự nhiên quên mất, lão già này. Mà sao tự dưng Đệ hỏi cái này? Định đi du lịch Bạch Đằng à? Mà đi mùa này có gì hay đâu...

  • Đằng (藤) là... bụi cây quấn quýt. À, ra là cái cây leo loằng ngoằng ấy. Ngày xưa đi học có học mấy cái từ này, giờ quên gần hết. Học tiếng Trung đúng là "toang".

  • Ngày xưa, hồi cấp 3, Huynh học dốt văn sử lắm. toàn chép bài của con nhỏ bàn bên. Mà nó học giỏi thật, giờ làm sếp ở đâu ấy nhỉ?