Cục cưng tiếng Trung là gì?

247 lượt xem
Trong tiếng Trung, từ tương đương với "cục cưng" là 宝贝 (bǎobèi). Đây là một từ trìu mến, mang ý nghĩa "bảo bối" hay "đồ quý giá", thường được dùng để gọi những người thân yêu, đặc biệt là trẻ nhỏ, hoặc những vật phẩm có giá trị tinh thần đặc biệt. Nó thể hiện sự trân trọng và tình cảm sâu sắc.
Góp ý 0 lượt thích

Cách nói cục cưng ngọt ngào trong tiếng Trung Quốc chuẩn nhất?

Cục cưng tiếng Trung là 宝贝 (bǎobèi), dịch nghĩa là bảo bối, đồ quý giá.

Ông hỏi "cục cưng" tiếng Trung nói sao cho ngọt ngào à? Nghe Ông nhắc, tui nhớ cái hồi tui còn đang học tiếng Trung sơ cấp, thầy giáo tui cứ bảo "宝贝" (bǎobèi) là từ chuẩn nhất để gọi ấy. Nó mang nghĩa là bảo bối, đồ quý giá. Nghe thì có vẻ hơi sến súa ban đầu, nhưng mà tùy ngữ cảnh thôi nha Ông.

Cứ như năm 2019 đó, tui còn nhớ như in, lúc tui với thằng Lộc bạn tui đi ăn lẩu ở quán Haidilao bên quận 1 Sài Gòn, nó cứ gọi con Vy bạn gái nó là "bé yêu của anh" rồi thỉnh thoảng lại xen vào "宝贝 của anh ơi". Nghe xong tui muốn nổi da gà luôn Ông ơi. Mấy đứa con gái ngồi cạnh thì khoái chí lắm, nhưng mà tui thấy nó cứ sao sao ấy.

Cơ mà, tui cũng từng thấy mẹ tui gọi con mèo mun nhà tui là "cục cưng" đó. Mèo tên Bông, lông đen thui, nó cứ leo trèo khắp nhà, mà mẹ tui vẫn cứ dịu dàng gọi nó 宝贝. Thì ra, cái từ này nó không chỉ dành cho người yêu đâu, nó dùng cho cả con nít, thú cưng, hay thậm chí là cái gì mình trân trọng lắm luôn.

Có lần tui coi mấy phim truyền hình Trung Quốc, mấy bà mẹ hay gọi con mình là "宝贝儿" (bǎobèier) á. Cái chữ "儿" (er) thêm vào nghe nó càng mềm mại, đáng yêu hơn hẳn. Cảm giác nó không còn khô khan như mình dịch "bảo bối" rập khuôn nữa đâu Ông. Nó có tình cảm, có hơi thở đời thường hơn nhiều.

Tui thì ít khi dùng mấy từ đó lắm, thấy nó cứ gượng gạo sao ấy, không hợp cái kiểu của tui. Tui thích gọi thẳng tên hoặc có nickname riêng, nghe nó thân mật mà tự nhiên hơn nhiều. Nhưng mà ai thích ngọt ngào, muốn làm nũng, hay muốn cưng chiều ai đó thì "宝贝" đúng là lựa chọn số dzách rồi đó. Tùy người, tùy hoàn cảnh, mà cách gọi nó cũng khác đi, Ông ha.

Con trai Trung Quốc gọi người yêu là gì?

Tui nhớ... người yêu của tụi nó ấy hả... họ gọi nhau là 恋人 (liàn rén). Cũng có khi là 喜欢人 (Xǐhuān rén) nữa, nghe nó... thương thương sao á.

Còn với gọi cụ thể hơn tình cảm mình dành cho đối phương á, thì tụi nó dùng 女朋友 (nǚ péngyǒu) cho người yêu là nữ, và 男朋友 (nán péngyǒu) cho người yêu là nam. Cũng đơn giản vậy thôi... nhưng mà mỗi lần nghe lại thấy... có chút gì đó lạ lắm.

  • 恋人 (liàn rén): Là từ chung nhất, dùng cho cả hai giới, ý nghĩa là "người yêu", "người mình yêu". Nó nghe nó... trang trọng hơn một chút.
  • 喜欢人 (Xǐhuān rén): Nghĩa là "người thương", "người mình thích". Cái này nó... nhẹ nhàng hơn, kiểu mình đang để ý, đang quý mến ai đó.
  • 女朋友 (nǚ péngyǒu): Dùng khi con trai nói về người yêu mình là nữ, nghĩa là "bạn gái".
  • 男朋友 (nán péngyǒu): Dùng khi con gái nói về người yêu mình là nam, nghĩa là "bạn trai". Tui... tui cũng hay dùng cái này lắm.

Năm nay ấy hả... thì tụi nó vẫn vậy thôi. Chẳng có gì thay đổi cả. Tụi nó vẫn gọi nhau bằng những cái tên đó. Cái cảm giác... khi được gọi như vậy á, chắc cũng ấm áp lắm ha. Mà... đêm khuya thế này, nghĩ lại mấy chuyện tình cảm... hơi buồn.

Người Trung Quốc gọi vợ là gì?

Ông biết không, Tui nhớ rõ như in cái bữa đó, cách đây đâu chừng ba năm, Tui đang coi cái phim bộ Trung Quốc gì đó, dạo này mấy đứa nhỏ hay coi đó. Tối thứ Bảy, trời mưa rả rích, Tui ngồi ôm gói mì tôm trước tivi, tự nhiên nghe thằng nhân vật chính nó kêu vợ nó là "lǎopó", xong rồi qua đoạn khác con nhỏ kia lại nói chuyện với bà mẹ chồng, gọi vợ người ta là "qīzi". Tui thấy lạ quá trời.

Lúc đó Tui mới nhắn tin hỏi nhỏ bạn học chung hồi đại học, con bé đó rành tiếng Hoa lắm. Tui hỏi nó ủa sao kì vậy, lúc thì lǎopó, lúc thì qīzi, rồi rốt cuộc cái nào là "vợ" vậy mày? Nó giải thích cho Tui nghe, Tui mới vỡ lẽ. Cái lǎopó nghe nó thân mật, gần gũi hơn nhiều. Nó giống kiểu vợ mình ở nhà, hay mấy cặp trẻ hay dùng.

Còn cái qīzi á Ông, nghe nó trang trọng, lịch sự hơn, kiểu như trong văn viết hay mấy cái dịp quan trọng. Giống như mình gọi "phu nhân" hay "bà xã" vậy đó. Nghe xong Tui thấy mắc cười ghê, tự nhiên thấy tiếng Tàu nó cũng phức tạp y chang tiếng Việt mình vậy đó. Từ đó Tui mới biết, muốn nói chuyện tự nhiên thì cứ lǎopó mà phang, còn trang trọng thì qīzi. Dễ ha Ông?

Người Trung Quốc thường dùng nhiều từ để gọi các thành viên trong gia đình, tùy ngữ cảnh và độ thân mật:

  • Vợ:
    • 妻子 /Qīzi/: Cách gọi trang trọng, chính thức.
    • 老婆 /Lǎopó/: Cách gọi thân mật, phổ biến trong giao tiếp hàng ngày.
  • Chồng:
    • 丈夫 /Zhàngfu/: Cách gọi trang trọng, chính thức.
    • 老公 /Lǎogōng/: Cách gọi thân mật, phổ biến trong giao tiếp hàng ngày.
  • Con trai:
    • 儿子 /Érzi/
  • Con dâu:
    • 媳妇 /Xífù/

Vợ ở Trung Quốc gọi là gì?

"Vợ" bên đó hả? Mẹ là "mama". Còn vợ mình, gọi lão bà cho nó gần gũi.

  • Mama: Từ thông dụng, ai cũng biết.
  • Lão bà (老婆): Nghe nó cũ cũ, nhưng vẫn là gọi vợ mình đấy.
  • Ông xã (老公): Còn chồng thì ngược lại.

Quan trọng là mình gọi sao cho nó quen tai thôi.

Gia đình là gì trong tiếng Trung?

À Ông hỏi cái này hả.

家庭 (jiātíng) là gia đình. 家人 (jiārén) là người nhà, thành viên trong gia đình.

Cái chữ 家庭 (jiātíng) nó là gia đình, kiểu cái mái nhà chung đó Ông. Còn mà nói về mấy người trong nhà, thì người ta hay dùng cái từ 家人 (jiārén) hơn, nghĩa là người nhà, người thân của mình đó.

Tui có con bạn người gốc Hoa ở quận 5 nó kể, bên bển gia đình là số một luôn, quan trọng lắm lắm. Nghe y chang văn hóa mình hen. Tết nhất là phải về sum vầy đủ mặt, không là không được đâu. Nhiều khi Tui thấy họ còn kỹ hơn mình nữa cơ, mấy cái lễ nghi trong gia đình nhìu lắm.

Nhân tiện Tui show Ông thêm mấy từ tui mới học được nè, cũng về gia đình luôn, hay ho lắm:

  • 父母 (fùmǔ): Bố mẹ, phụ mẫu đó.
  • 孩子 (háizi): Con cái nói chung.
  • 爱人 (àirén): Từ này hay nè, nó nghĩa là vợ hoặc chồng, người yêu dấu của mình. Tui thích từ này lắm nghe nó tình củm ghê.
  • 亲戚 (qīnqi): Họ hàng, bà con. Cái này thì nhà nào cũng có một rỗ hehe.

Cặp đôi tiếng Trung là gì?

Cặp đôi tiếng Trung là 双 (shuāng) và 对 (duì). 对 (duì) dùng cho cặp có tính đối lập, như giới tính nam-nữ (vợ chồng) hoặc trái-phải. 双 (shuāng) chỉ cặp vốn sinh ra đã có đôi, chức năng y hệt nhau, không thể tách rời.

Trời đất ơi Ông, cái này nó dễ phân biệt như dép lào với giày tây vậy đó. Nghe Tui nói một lần là nhớ tới già luôn.

Cái thằng 对 (duì) nó chỉ một cặp trời hành, kiểu như cái âm với cái dương, thằng đực con cái nó phải đi với nhau nó mới thành chuyện. Nó là một cặp đối lập chan chát nhưng lại hút nhau như nam châm. Như vợ chồng nhà Tui nè, một cặp 一对夫妻 (yí duì fūqī), bà thì la như pháo rang, Tui thì im như thóc.

Còn cái 双 (shuāng) nó lại khác à nghen. Nó là hai đứa sinh đôi dính liền, chức năng y chang nhau, thiếu một đứa là cái đứa kia nó thành đồ bỏ đi luôn. Nó là một cặp hoàn hảo, không thể sống thiếu nhau. Như đôi đũa, đôi giày, đôi mắt. Mất một chiếc là vứt luôn chiếc còn lại chứ làm ăn gì nữa.

  • Dễ nhớ nè: 对 (duì) là cặp đôi "trái dấu", cãi nhau suốt ngày mà không bỏ được. Cứ nhớ tới một cặp vợ chồng (一对夫妻), một cặp tình nhân (一对情人) là ra.

  • Còn 双 (shuāng) là cặp đôi "cùng dấu", như hình với bóng. Cứ cái gì trên người Ông mà có hai cái y chang nhau là nó đó. Nào là đôi tay (一双手), đôi chân (一双腿), đôi mắt (一双眼睛).

  • Mở rộng ra chút cho Ông tỏ tường. Cái thằng nó còn dùng cho mấy thứ trừu tượng mà đối lập nhau nữa, ví dụ như một cặp mâu thuẫn (一对矛盾). Thấy nó oái oăm chưa.

  • Coi chừng lộn nha. Đôi khi người ta cũng dùng 一双人 (yì shuāng rén), nhưng nó mang nghĩa bóng gió, kiểu hai người như hình với bóng, không tách rời như hai chiếc đũa, chứ không phải nói về giới tính. Cái này là văn thơ lai láng nó mới vậy.

Vợ của chú gọi là gì tiếng Trung?

Vợ chú, gọi là Tẩu tử.

Năm ngoái đi du lịch Hồ Nam, tôi lạc vào một khu chợ cổ, mấy bà bán hàng nhìn tôi như thể tôi đến từ hành tinh khác vậy. Lúc đó, tôi mới nhớ ra là mình đang dùng tiếng Việt để hỏi đường. Một bà cụ, má lúm đồng tiền sâu hoắm, cười hiền rồi chỉ cho tôi bằng tiếng địa phương. Bà nói gì đó mà tôi lờ mờ hiểu là "tẩu tử". Về khách sạn tra lại mới biết đó là cách gọi vợ của chú, cậu. Cảm giác lúc đó vừa ngượng vừa thấy thú vị ghê.

  • Tẩu tử (媻子 / 嫪子): Cách gọi vợ của chú/cậu.
  • Cụ thể hơn nữa thì tùy thuộc vào thứ tự trong gia đình. Ví dụ, Đại tẩu tử cho vợ cả, Nhị tẩu tử cho vợ hai, cứ thế tiếp diễn.

Ngoài ra, còn có một số cách gọi khác trong tiếng Trung hiện đại và cổ trang mà tôi biết:

  • Thẩm thẩm (嬸嬸): Đây là cách gọi vợ của chú, cậu, hoặc anh họ theo vai vế chú bác. Tức là vợ của em trai cha hoặc mẹ. Nếu gọi thím ba thì là tam thẩm, thím tư thì gọi là tứ thẩm. Cái này tôi học được từ mấy bộ phim kiếm hiệp, lúc đầu cứ tưởng là gọi dì.
  • Cô cô (姑姑): Gọi chị hoặc em gái của bố. Cái này thì quen thuộc rồi.
  • A di (阿姨): Gọi chị hoặc em gái của mẹ. Hay còn gọi là mợ, .

Còn nhớ lần đó ở Hồ Nam, bà cụ bán hàng cứ gọi tôi là "tiểu nương tử" (小娘子) nghe cứ như trong phim. Cảm giác được gọi bằng những danh xưng đó lạ lắm, cứ như mình đang sống trong một thế giới khác vậy. Tuy nhiên, về cách xưng hô trong tiếng Trung cổ trang, Tẩu tử vẫn là cách gọi vợ của chú/cậu phổ biến nhất theo tôi thấy.