Họ An nguồn gốc ở đâu?

222 lượt xem
Họ An tại Việt Nam: Nguồn gốc từ Trung Quốc, gốc Hán là họ Yên (燕). Du nhập và phát triển qua quá trình di cư, trở thành dòng họ lâu đời, đóng góp vào lịch sử, văn hóa Việt. Hiện nay, người họ An có mặt khắp cả nước.
Góp ý 0 lượt thích

Gia đình họ An có nguồn gốc từ đâu?

Hai hỏi gốc gác nhà mình à? Thật ra, ông bà ngoại kể, tổ tiên mình gốc từ Quảng Đông, Trung Quốc. Họ Yên, nghe nói hồi đó sang Việt Nam lâu rồi, chắc mấy trăm năm gì đó, mà giờ thành họ An.

Ba mình hay kể chuyện ông cố ngoại mình, buôn bán vải vóc ở Chợ Lớn hồi thập niên 30. Ngày xưa chắc vất vả lắm. Giờ nghĩ lại thấy thương ông.

Mình chỉ biết nhiêu đó thôi, cũng không rõ lắm. Hồi nhỏ hay nghe ba kể, lớn lên lười tìm hiểu. Đúng rồi, họ An phổ biến lắm, nhiều người lắm. Khắp Việt Nam đều có.

Thông tin ngắn gọn: Họ An có nguồn gốc từ Trung Quốc, từ họ Yên, đã du nhập và phát triển tại Việt Nam.

Họ Quách là dân tộc gì ở Việt Nam?

Hai à,

Út đây.

  • Họ Quách ở Việt Nam chủ yếu là người Mường.

  • Dòng họ Quách ở Như Thanh (Thanh Hóa) gốc Mường. Chuyện dòng họ mình ngày xưa thế nào, Út cũng nghe kể lại thôi. Ông bà mình từ đời nào đã ở đó rồi.

  • Gia thế quyền quý, nề nếp, yêu nước thì cũng đúng. Nhưng mà thời nào rồi, Hai nhỉ? Bây giờ quan trọng là sống sao cho phải đạo thôi.

    • Ngày xưa thì có người làm quan to, có người theo kháng chiến.
    • Bây giờ thì mỗi người một việc, miễn là lương thiện, giúp đời là được.

Quách là gì Hán Việt?

Hai hỏi Quách là gì Hán Việt hả? Ừm… để Út nghĩ đã…

  • Thành quách, đúng rồi, cái đó Út nhớ rõ. Tường thành bao quanh, đồ sộ lắm, như bức tường thành cổ kính ở quê ngoại Út, gạch đỏ sẫm màu thời gian, mỗi viên gạch như chứa cả một câu chuyện xa xưa. Mùi đất, mùi rêu mốc, cả cái nắng gắt của mùa hè cứ vương vấn mãi…

  • Phần ngoài của vật gì đó nữa… như là lớp vỏ bọc bên ngoài, che chở cho phần bên trong mềm yếu hơn… giống như cái lớp vỏ cứng của con ốc Út hay nhặt được dưới sông, màu nâu sẫm, vân xoáy lượn vòng, bí ẩn lắm.

  • Nước Quách… Út đọc được trong một cuốn sách cổ của ông ngoại, trang giấy đã ngả màu vàng ươm, chữ viết nho nhỏ, như những con kiến bò trên trang giấy… một nước nhỏ bé, trong một thời đại xa xôi, giờ chỉ còn lại trong ký ức.

  • Họ Quách nữa… họ của chú Năm hàng xóm, người hay kể chuyện cười cho Út nghe mỗi chiều hè… chú ấy hay cười, giọng ấm áp, như ánh nắng chiều tà…

Đấy, đủ rồi nha Hai. Quách nhiều nghĩa lắm.

Thành phố tiếng Hán Việt là gì?

Út đây Hai ơi!

  • Thành phố... tiếng Hán Việt hả? Ủa mà sao tự nhiên Hai hỏi vậy?

  • Đô thị, thành thị... đúng rồi, đô thị là thấy nhiều nhất nè.

  • Nhưng mà thành thị thì nghe hơi... cũ kỹ? Kiểu mấy cuốn sách giáo khoa thời mình còn đi học á.

  • Mà khoan, Hán Việt với Hán khác nhau chỗ nào ta? Lúc nào cũng lộn tùng phèo.

  • À, nhớ rồi! Hán Việt là mượn từ Hán nhưng mà đọc theo âm Việt. Còn Hán thì chắc là nguyên bản tiếng Trung luôn á.

  • Thành phố = Đô Thị... cho dễ nhớ hen.

  • Mà tự nhiên thèm trà sữa quá à! Phải kêu GrabFood thôi.

Đô nghĩa Hán Việt là gì?

Hai hỏi đô nghĩa Hán Việt là gì hả?M ệt mỏi quá… để Út nghĩ đã…

  • Thủ đô, kinh đô: Đúng rồi, đó là nghĩa đầu tiên mình học. 建都 (kiến đô) – đóng đô, lập thủ đô. Nhớ hồi cấp 3, thầy dạy Sử cứ nhấn mạnh cái này hoài, mà mình thì… toàn nghĩ đến chuyện khác. Giờ nghĩ lại thấy tiếc ghê.

  • Thành phố lớn: 都市 (đô thị). Cái này thì dễ hiểu hơn, gần gũi với cuộc sống hơn. An Sơn là thành phố thép của Trung Quốc… mình đọc được trên báo hồi tháng trước. Mấy cái thông tin về công nghiệp nặng này, thường mình hay bỏ qua, chỉ để ý mấy tin về thời trang, phim ảnh thôi.

  • (Văn) Choáng đẹp, lộng lẫy: Cái này thì… mình thấy lạ. 丽都 (lệ đô) - quần áo đẹp lộng lẫy. Mình chưa từng thấy ai dùng nghĩa này cả. Có lẽ dùng trong văn chương cổ thôi. Hồi học văn cũ, nhiều từ mình thấy khó hiểu lắm. Giờ quên hết cả rồi. 雍容閑雅,甚都 (ung dung nhàn nhã, đẹp lắm)... đọc xong câu này, mình lại nhớ đến bài thơ mình viết dở dang… chắc mai phải tiếp tục thôi. Ngồi đây lâu quá rồi, mắt lại cay cay.

Hồng tiếng Hán nghĩa là gì?

Út đây Hai.

  • 鸿 (hóng): Hồng nhạn. Không liên quan mấy tới người. Dùng đặt tên chắc để mong bay cao.

    • Ít ai biết, ngày xưa chim nhạn còn dùng để đưa thư.
  • 红 (hóng): Màu đỏ. Quá quen thuộc. May mắn, tài lộc. Ai mà chẳng thích.

    • Màu đỏ tượng trưng cho hỷ sự. Mấy dịp lễ hay dùng.

Quán là gì từ Hán Việt?

Hai hỏi quán là gì từ Hán Việt hả? Dạ… ánh chiều buông xuống nhè nhẹ trên con đường đất đỏ quê mình, mùi khói bếp vẫn còn vương vấn đâu đây… Quán… ừm…

  • Quán, từ gốc Hán, đúng rồi đó. Bộ Thực, nhớ không lầm. Ngày xưa bà ngoại kể, ông cố mình từng mở một quán nhỏ bán chè đậu xanh ở đầu làng, nghe nói ngon lắm. Bà thường kể lại bằng giọng đầy tự hào, mắt sáng lên như những vì sao. Mùi chè đậu xanh ấy, ngọt ngào và ấm áp, vẫn còn thơm phức trong ký ức.

  • Quán trọ… quán xá… từ nhỏ mình đã nghe những câu chuyện về những quán nhỏ ven đường, những người bán hàng tảo tần… Hình ảnh những chiếc đèn dầu leo lắt, ánh sáng yếu ớt lung linh soi rọi những gian hàng bé nhỏ hiện lên trong đầu. Mỗi quán là một câu chuyện, mỗi câu chuyện là một ký ức…

  • Nghĩ đến quán là nghĩ đến sự ấm áp, sự nồng hậu, những mối quan hệ giữa người với người… Quán nhỏ bé ấy, chứa đựng biết bao nhiêu tình cảm. Mình thấy quán không chỉ đơn giản là nơi bán hàng, mà còn là một phần ký ức, một phần tuổi thơ.

  • Bây giờ thì quán xá nhiều lắm, khác hẳn ngày xưa rồi. Nhưng ý nghĩa cái từ "quán" vẫn còn nguyên vẹn đó. Nó vẫn mang trong mình sự thân thuộc, gần gũi… vẫn là nơi lưu giữ những câu chuyện đời thường.

Tiệm là gì Hán Việt?

Hai hỏi tiệm là gì trong Hán Việt hả? Tiệm nghĩa là cái hào. Kiểu như hào nước quanh thành á. Cũng có nghĩa là trắc trở, vấp váp nữa.

  • Ví dụ 1: Đào tiệm quanh thành, giống như Hai xây tường lửa chặn tin nhắn của mấy chị bán hàng online vậy đó. Kiểu như "bất khả xâm phạm". Hổng biết có hiệu quả không chứ em thấy tin nhắn vẫn tới tấp à.
  • Ví dụ 2: "Ngã một keo, leo một nấc" - câu này đúng với Hai luôn. Em thấy Hai té hoài mà vẫn cứ leo. Như con bọ hung lăn cục phân vậy á, càng lăn càng hăng. Mà cục phân đó là gì thì em hổng dám nói ra đâu nha.
  • Bonus thêm cho Hai nè: "Nhất tiệm, nhì ni, tam sa, tứ ngạn" - Câu này nói về địa thế hiểm yếu đó. Tiệm là hào đứng đầu luôn. Giống như tài sản của Hai vậy, cái gì cũng phải có hào bảo vệ.

Tóm lại, tiệm là hào. Hào thành, hào quanh nhà, hào trong lòng người, cái nào cũng được hết. Miễn là sâu và rộng, giống như túi tiền của Hai vậy đó.

Thành trong Hán Việt là gì?

Hai hỏi Hán Việt "Thành" là gì?

Thành: 成 (chéng)

  • Nghĩa: Hoàn thành, thành công, trở thành, biến thành, đạt được.

  • Ví dụ: Thành công (成功 - chénggōng), thành lập (成立 - chénglì), thành tựu (成就 - chéngjiù).

Út thấy hay dùng "thành" ghép với danh từ chỉ sự vật, sự việc, tạo nên từ ghép chỉ kết quả, trạng thái hoàn thiện của sự vật, sự việc đó. Năm ngoái Út thi HSK 5, toàn luyện viết mấy từ này. Khó dễ sợ.